cơ cấu tổ chức

liên kết

Tiện ích


TIN TỨC Y TẾ

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH GLOCOM (CƯỜM NƯỚC)
[ Cập nhật vào ngày (24/03/2021) ]

 Glocom - hay còn gọi là thiên đầu thống, cườm nước – là một nhóm bệnh về mắt có đặc điểm chung là tăng áp lực bên trong nhãn cầu (gọi là tăng nhãn áp) quá mức chịu đựng của mắt bình thường dẫn tới giảm thị lực, nếu không được điều trị đúng mức sẽ dẫn đến giảm thị lực không hồi phục và mù lòa.


Ø  Glocom (cườm nước) là nguyên nhân dẫn đến mù lòa đứng thứ 2 tại Việt Nam, sau bệnh lý đục thủy tinh thể (cườm khô).

Ø  Đặc trưng của bệnh Glocom là: lõm hoặc teo gai thị thần kinh, thu hẹp thị trường (giảm độ rộng của trường nhìn thấy), giảm thị lực (nhìn mờ) với có hoặc không có tăng nhãn áp.

Ø  Glocom có thể gặp ở bất cứ độ tuổi, giới tính nào. Trong đó, tuổi càng cao thì dễ bị Glocom hơn. Tỷ lệ Glocom góc đóng ở nữ cao gấp 4 lần ở nam giới. Ngược lại, Glocom góc mở nguyên phát gặp ở nam nhiều hơn nữ, cao hơn 1,7 lần.

Ø  Tiền sử gia đình là yếu tố tiên lượng có ý nghĩa trong bệnh Glocom nguyên phát, đặc biệt là Glocom góc mở.

Ø  Ở Việt Nam, Glocom được phân loại thành:

·         Glocom nguyên phát: gồm Glocom góc đóng nguyên phát và Glocom góc mở nguyên phát.

·         Glocom thứ phát: xuất hiện sau những rối loạn tại mắt và toàn thân, như Glocom do chấn thương, do viêm màng bồ đào, do bệnh lý của thể thủy tinh, dùng corticoid kéo dài...

Mỗi hình thái Glocom có triệu chứng bệnh khác nhau, và phương pháp điều trị cho mỗi thể bệnh cũng khác nhau. Đo nhãn áp, soi đáy mắt, soi góc tiền phòng là những thăm khám quan trọng để xác định người bệnh có bị Glocom không và bị Glocom thể nào, từ đó bác sĩ có thể đưa ra phương pháp điều trị thích hợp.

Ø  Những dấu hiệu của bệnh Glocom:

·         Đối với Glocom góc đóng cơn cấp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, dữ dội:

-          Mắt đau nhức đột ngột, dữ dội, đau lan lên nửa đầu cùng bên.

-          Nhãn cầu căng cứng như hòn bi

-          Mắt đỏ, mi nề, chảy nước mắt, sợ ánh sáng

-          Thị lực giảm nhanh thậm chí mất hẳn, nhìn mờ như nhìn qua màn sương, nhìn vào các vật sáng thấy quầng xanh đỏ như cầu vồng.

Nếu không điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật, cơn đau nhức vẫn kéo dài, võng mạc tổn thương không hồi phục, mù trong vòng 1-2 tuần. Nhưng cũng có trường hợp nhãn áp tự hạ, thị lực phục hồi ít nhiều, bệnh tiến triển dưới hình thái bán cấp hoặc mạn tính.

·         Glocom góc đóng mạn tính: rất ít gặp, thường không có triệu chứng, đa số bệnh nhân đến khám khi thị lực đã giảm nặng.

·         Glocom góc mở: bệnh âm thầm phát triển lần lượt qua các giai đoạn, bệnh nhân thường không phát hiện thị lực giảm sút, do đó thường phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn nặng. Đa số bệnh nhân không đau nhức mắt hay đau đầu, một số có cảm giác nặng, căng tức mắt hoặc nhìn mờ thoáng qua rồi tự hết, khiến bệnh nhân chủ quan không đến khám.

·         Glocom có nhãn áp bình thường: triệu chứng lâm sàng giống như Glocom góc mở nguyên phát về mọi mặt trừ nhãn áp, khó phân biệt được.

Ngoài ra, như đã nói, Glocom có thể di truyền, do đó, tầm soát Glocom ở bệnh nhân có đau đầu, nhức mắt, nhìn mờ với tiền sử gia đình có người bị Glocom là việc cần thiết.

Ø  Phương pháp điều trị Glocom: điều trị Glocom cần phải xác định chính xác thể bệnh.

·         Glocom góc đóng cấp: đây là một cấp cứu nhãn khoa, việc điều trị cần phải khẩn trương, tích cực để hạ nhãn áp, giảm đau và an thần cho bệnh nhân.

-          Tại mắt: tra Pillocarrpin 1% - 2% 1giờ/lần, duy trì đến nhãn áp hạ thì tra 4giờ/lần.

-          Acetazolamid 250mg uống 2-4 viên/ngày. Nếu bệnh nhân nôn nhiều không uống được thì tiêm tĩnh mạch Diamox 500mg  x1 ống.

Điều trị nội khoa chỉ giải quyết tình trạng cấp cứu nhãn khoa nhằm bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Khi nhãn áp hạ, cần phải phẫu thuật.

·         Glocom góc mở: cần điều trị với mục đích là hạ nhãn áp xuống dưới mức gây tổn hại cho thị thần kinh và chức năng thị giác. Các thuốc tra mắt điều trị Glocom góc mở có khá nhiều loại, như: nhóm hủy beta-adrenergic, nhóm cường adrenergic, nhóm cường cholinergic, nhóm prostaglandin.

Trong trường hợp nhãn áp không ổn định với điều trị nội khoa thì có thể chỉ định phẫu thuật.

Hiện nay có 3 phương pháp mổ Glocom đang được sử dụng phổ biến. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm nhất định, bệnh nhân sẽ được bác sĩ thăm khám, tư vấn và chỉ định cụ thể.

o   Mổ Glocom bằng phương pháp cắt bè củng mạc: đây là phương pháp ra đời từ rất sớm, bác sĩ sẽ tiến hành cắt bỏ một phần bè củng giác mạc và mống mắt tọ đường thoát cho tủy dịch, làm ổn định áp lực trong mắt.

o   Mổ Glocom bằng phương pháp cấy ghép ống thoát thủy dịch: sử dụng 1 chiếc ống dài khoảng 1,3cm bằng silicon dể ghép vào mắt bệnh nhân. Sau mổ bệnh nhân khá khó chịu do phải băng mắt, thời gian theo dõi cần tới vài tuần.

o   Mổ Glocom bằng laser: đây là phương pháp không cần sử dụng dao kéo, bác sĩ dùng tia laser tạo ra khoảng 100 lỗ nhỏ ở vùng bè giác mạc để thoát thủy dịch. Đây là bước tiến lớn của y học hiện đại, đang được áp dụng phổ biến. Sau mổ Glocom bằng laser, trong khoảng 2-5 năm tiếp theo, nguwoif bệnh cần được theo dõi, đề phòng tái phát.

Ø  Mục đích điều trị Glocom là nhằm ngăn chặn bệnh không tiếp tục gây tổn thương thị giác. Bệnh nhân sau khi phẫu thuật nên đi kiểm tra mắt, theo dõi nhãn áp 3 tháng/ lần trong năm đầu tiên, sau đó định kỳ 6-12 tháng/lần.

Với bệnh nhân điều trị Glocom góc mở bằng thuốc tra tại mắt, phải khám và theo dõi nhãn áp 2 tháng /lần, kiểm tra thị trường và soi đáy mắt 3-6 tháng/lần.

Tuân thủ theo dõi định kỳ từ khi phát hiện bệnh, kiên trì điều trị suốt đời là cần thiết và bắt buộc để kiểm soát diễn biến bệnh và bảo tồn thị lực cho chính người bệnh. Có nhiều trường hợp, glocom tuy đã được phát hiện và điều trị song ngươi bệnh cho rằng đã khỏi hẳn nên không đi khám, theo dõi tiếp, hậu quả là ệnh tiếp tục âm thầm tiến triển đến mất hoàn toàn thị lực.

Ø  Tóm lại, Glocom hay còn gọi là cườm nước là một nhóm bệnh lý nhãn khoa nguy hiểm vì có thể dẫn tới mất thị lực vĩnh viễn, nhưng là một bệnh có thể phòng và chữa được. Do đó, người bệnh cần tới cơ sở y tế có chuyên môn để khám phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời. Tuân thủ điều trị và theo dõi bệnh suốt đời là bắt buộc để đảm bảo bệnh không diễn tiến nặng hơn dẫn tới mù hoàn toàn.

 

BS. Hồng Trinh




CN Len

  In bài viết



tin mới


Đơn vị trực thuộc

Tìm kiếm tin tức

SƠ đồ đường đi